Công Ty Luật Quốc Tế Phước & Cộng Sự

Chọn Ngôn Ngữ:
+84 (28) 3744 9977
Phuoc & Partners Attorneys At Law

Hợp nhất, sáp nhập các doanh nghiệp khác loại, tại sao không?

Bài viết của Luật sư Nguyễn Danh Công và Trợ lý luật sư Ngô Thị Diễm được đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn ngày 25/07/2013.

***

Hợp nhất và sáp nhập có thể là con đường ngắn nhất để có những doanh nghiệp lớn mạnh. Tuy nhiên, hoạt động hợp nhất và sáp nhập còn gặp nhiều ràng buộc theo Luật Doanh nghiệp, một trong những ràng buộc đó là chỉ được hợp nhất và sáp nhập doanh nghiệp cùng loại.

Tại sao phải cùng loại?

Theo Luật Doanh nghiệp 2005, cả hợp nhất và sáp nhập doanh nghiệp đều có nghĩa là hai hoặc một số công ty cùng loại (công ty bị hợp nhất, hoặc sáp nhập) có thể hợp nhất,hoặc sáp nhập thành công ty mới (công ty hợp nhất, sáp nhập) bằng cách chuyển đổi toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty hợp nhất, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các công ty bị hợp nhất và, hoặc bị sáp nhập.

Hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp tại sao phải cùng loại?

Để lý giải cho câu hỏi này, chúng tôi đã tham khảo các quy định có liên quan của các văn bản pháp luật doanh nghiệp trước đây nhằm nghiên cứu quan điểm lập pháp của cơ quan lập pháp theo từng thời kỳ. Kết quả là Luật Công ty năm 1990 chưa có quy định cụ thể ghi nhận về hai hình thức hợp nhất và sáp nhậptrong khi đó, Luật Doanh nghiệp 1999 cũng chỉ cho phép hợp nhất, sáp nhập các doanh nghiệp cùng loại.

Đồng tình với ý kiến của nhiều chuyên gia pháp lý, chúng tôi cho rằng, có lẽ xuất phát từ tư duy pháp lý đơn giản rằng chỉ có các doanh nghiệp cùng loại, nghĩa là doanh nghiệp tư nhân với doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH với công ty TNHH, công ty cổ phần với công ty cổ phần mới có thể hợp nhất, sáp nhập với nhau nhằm giữ nguyên mô hình tổ chức ban đầu của các công ty này để tránh xáo trộn xảy ra sau quá trình cơ cấu lại. Dưới góc độ quản lý hành chính, quy định này có thể đã đáp ứng được mong đợi đơn giản hóa thủ tục hành chính của cơ quan quản lý doanh nghiệp.

Về bản chất, hợp nhất hoặc sáp nhập doanh nghiệp là hoạt động cộng dồn quy mô về vốn, tài sản, lao động, thị phần …của hai hay nhiều doanh nghiệp lại với nhau. Theo đó, các doanh nghiệp được hợp nhất hoặc bị sáp nhập sẽ chấm dứt tồn tại, đồng thời, doanh nghiệp hợp nhất hoặc doanh nghiệp nhận sáp nhập dù có giữ nguyên loại hình doanh nghiệp như trước đây thì chắc chắn sẽ phải tổ chức lại bộ máy quản lý, điều hành của mình để phù hợp với quy mô mới của doanh nghiệp. Do vậy, việc lo ngại về sự xáo trộn trong cơ cấu tổ chức của các doanh nghiệp hậu hợp nhất, sáp nhập là không cần thiết và không thực tế.

Hơn nữa, về mặt thủ tục pháp lý, đối với hình thức hợp nhất, các doanh nghiệp được hợp nhất sẽ phải tiến hành thủ tục đăng ký kinh doanh để thành lập một doanh nghiệp mới.  Theo đó, việc quy định các doanh nghiệp được hợp nhất phải cùng loại sẽ không còn ý nghĩa. Do khi đăng ký thành lập mới, doanh nghiệp hợp nhất phải được quyền lựa chọn hình thức doanh nghiệp thay vì bắt buộc phải tiếp tục duy trì hình thức doanh nghiệp của các doanh nghiệp được hợp nhất trước đây.

Ngoài ra, đối với hình thức sáp nhập, tất cả vốn, tài sản, lao động,… bộ máy điều hành của doanh nghiệp bị sáp nhập chắc chắc sẽ bị cắt giảm hoặc sắp xếp lại trên cơ sở phù hợp với bộ máy điều hành hiện tại của doanh nghiệp nhận sáp nhập. Nói cách khác, doanh nghiệp nhận sáp nhập sẽ tiếp tục duy trì mô hình, cơ cấu tổ chức của mình trong khi cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp bị sáp nhập sẽ không còn tồn tại.

Và các tác động tiêu cực

Trên thực tế, vì pháp luật không cho phép hợp nhất, sáp nhập giữa các doanh nghiệp khác loại, các doanh nghiệp bắt buộc phải đi đường “vòng”, nghĩa là doanh nghiệp được hợp nhất hoặc bị sáp nhập phải chuyển đổi loại hình doanh nghiệp cho phù hợp với loại hình của doanh nghiệp còn lại trước khi tiến hành giao dịch nhằm đáp ứng yêu cầu mà pháp luật đề ra. Điều này  không chỉ làm gia tăng chi phí của các bên liên quan trong các thương vụ hợp nhất, sáp nhập mà còn làm lãng phí nguồn lực của xã hội khi mục đích đơn giản hóa thủ tục hành chính của Nhà nước không những không đạt được mà còn bị “phức tạp hóa”.

Xét cho cùng, việc hạn chế hợp nhất và sáp nhập giữa các doanh nghiệp khác loại mà pháp luật Việt Nam đặt ra chỉ nên được áp dụng cho các loại hình doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm pháp lý về tài sản khác nhau. Chẳng hạn như giữa doanh nghiệp tư nhân vốn chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của doanh nghiệp và công ty TNHH hoặc công ty cổ phần vốn chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi phần vốn góp.

Về phía các loại hình doanh nghiệp có cùng chế độ trách nhiệm pháp lý về tài sản như công ty TNHH và công ty cổ phần, pháp luật doanh nghiệp nên cho phép hợp nhất, sáp nhập trực tiếp giữa hai loại hình doanh nghiệp này để phù hợp với quy định cho phép chuyển đổi loại hình qua lại giữa chúng. Tuy nhiên, pháp luật doanh nghiệp và pháp luật có liên quan cần quy định cụ thể hơn đối với các vấn đề về sắp xếp lại lao động; thủ tục và điều kiện chuyển đổi tài sản, phần vốn góp, cổ phần, trái phiếu giữa các nhóm đối tượng này.

Theo kinh nghiệm của chúng tôi, việc xác định vốn điều lệ của hai hay nhiều doanh nghiệp cùng loại hậu hợp nhất, sáp nhập không chỉ đơn thuần là việc cộng dồn cơ học vốn điều lệ của chúng mà còn liên quan đến việc vốn hóa các tài sản hữu hình cũng như vô hình khác của các doanh nghiệp khi tham gia hợp nhất, sáp nhập. Do đó, khi cho phép hợp nhất, sáp nhập giữa các doanh nghiệp khác loại, vấn đề này cần phải được giải quyết thấu đáo nhằm xóa bỏ sự khác biệt trong việc xác định cơ cấu vốn điều lệ giữa công ty TNHH và công ty cổ phần.

Từ các lý do nêu trên, để tránh lãng phí các chi phí và thời gian không cần thiết cho doanh nghiệp và Nhà nước cũng như nhằm thúc đẩy hoạt động hợp nhất, sáp nhập diễn ra sôi động hơn, trong lần sửa đổi, bổ sung Luật Doanh nghiệp 2005 sắp tới, cơ quan lập pháp nên nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật có liên quan theo hướng cho phép hợp nhất, sáp nhập trực tiếp giữa các doanh nghiệp khác loại nhưng có cùng chế độ trách nhiệm pháp lý về tài sản như phân tích trên.