Công Ty Luật Quốc Tế Phước & Cộng Sự

Chọn Ngôn Ngữ:
+84 (28) 3744 9977
Phuoc & Partners Attorneys At Law

Những biến thể đặc biệt của mô hình công ty

Bài viết của Trợ lý pháp luật của Phuoc & Partners – Ông Lê An Hải với tiêu đề “Những biến thể đặc biệt của mô hình công ty”, được đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn ngày 28/1/2016, số 5-2016 (1.311).

***

Tùy theo mục đích sử dụng, các nhà quản trị doanh nghiệp trên thế giới đã tạo ra các biến thể đặc biệt của công ty để phù hợp với từng dự án đầu tư. Hiểu được các biến thể đó, doanh nhân có nhiều không gian chọn lựa các mô hình công ty cho chính mình.

Công ty thường được hình dung như những tổ chức kinh doanh – một thực thể pháp lý với tư cách riêng, tên gọi riêng, cơ cấu tổ chức, người đại diện … Trong đầu tư, công ty được nâng lên một tầm cao hơn: công cụ để thực hiện dự án.

SPV – Công ty cho mục đích đặc biệt

Special Purpose Vehicle (SPV) hay Special Purpose Entity (SPE) là công ty được lập để phục vụ mục đích đặc biệt nào đó của công ty mẹ. SPV đã xuất hiện cách đây hơn ba thập niên và bị gán cho là thủ phạm của cuộc khủng hoảng tài chính những năm 2007-2008 tại Mỹ. Nguyên thủy, các ngân hàng cho những đối tượng không đủ tiêu chuẩn vay để mua nhà tạo nên các khoản vay dưới chuẩn. Để tránh nắm giữ toàn bộ rủi ro khi người vay mất khả năng thanh toán nợ, các ngân hàng đã lập ra những công ty SPV, chuyển các khoản nợ này cho SPV rồi bán khoản nợ này cho các nhà đầu tư theo hình thức phát hành trái phiếu. Nhà đầu tư sẽ được hưởng phần lớn tiền lãi trả định kỳ của người vay ban đầu, ngân hàng nhận phần nhỏ xem như phí quản lý.

Theo thời gian, mô hình PSV không chỉ gói gọn trong lĩnh vực tài chính mà còn được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực. Một ví dụ cụ thể, một tập đoàn nước ngoài liên doanh với một doanh nghiệp Việt Nam, sử dụng công ty liên doanh như SPV. Trong quá trình hoạt động, công ty liên doanh này sẽ mua nguyên liệu giá cao từ công ty nước ngoài hoặc nâng cao chi phí quản lý đổng thời bán thành phẩm với giá thấp. Công ty liên doanh do vậy có thể lỗ hoặc lợi nhuận thấp nhưng nó có thể chuyển lợi nhuận thực sự về cho công ty mẹ nước ngoài. Sau một thời gian khi bên doanh nghiệp Việt Nam không chịu được “nhiệt” từ việc thua lỗ thường xuyên, rút khỏi liên doanh thì bên nước ngoài thâu tóm liên doanh trở thành công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài.

SPV có thể phục vụ nhiều mục đích của công ty mẹ.

Thứ nhất, chuyển nhượng tài sản dưới chuẩn như đã nói.

Thứ hai, phân tán bớt rủi ro: công ty thành lập SPV đã chuyển giao bớt rủi ro sang SPV để bảo vệ công ty mẹ.

Thứ ba, huy động vốn mà không làm ảnh hưởng tỉ lệ sở hữu: đối với các dự án lớn, công ty thành lập SPV có thể đầu tư một phần vốn và phần còn lại sẽ kêu gọi từ nhà đầu tư bên ngoài mà không cần bỏ toàn bộ vốn đầu tư cho dự án. Do đó, SPV có thể được sử dụng để huy động vốn cho một dự án lớn mà không làm tăng gánh nặng nợ hay làm pha loãng cổ phần đối với công ty thành lập SPV.

Thứ tư, tách các khoản nợ xấu ra khỏi công ty một cách hợp pháp để chuyển sang SPV và làm đẹp báo cáo tài chính.

Thứ năm, cải thiện thanh khoản cho công ty: khi công ty SPV bán các khoản nợ này cho các nhà đầu tư khác, công ty này sẽ thu về các khoản tiền bán hàng, dịch vụ, phí… và giúp cho công ty thành lập cải thiện được thanh khoản của mình.

Thứ sáu, thâu tóm doanh nghiệp: với nhiều các thức khác nhau, SPV có thể là công cụ để thâu tóm các doanh nghiệp khác.

Tuy nhiên, sử dụng SPV cũng dẫn đến những vấn đề về mặt pháp lý. Ví dụ như cấu trúc phức tạp – sự phức tạp về quản lý và dòng tiền có thể khiến công ty mẹ không kiểm soát được SPV. Ngoài ra, còn có rủi ro uy tín – uy tín của công ty mẹ có thể bị ảnh hưởng nếu SPV hoạt động tồi.

Trên thế giới các quy định pháp luật điều chỉnh mô hình này vẫn còn khá mập mờ, dẫn đến việc SPV bị đặt vào tầm ngắm của các nhà làm luật nhằm thắt chặt hoạt động của SPV với cơ chế minh bạch thông tin và vai trò của nó trong hoạt động của công ty mẹ.

Mô hình sở hữu đặc biệt – VIE

Theo quy định của luật đầu tư tại một số quốc gia, nhà đầu tư nước ngoài bị cấm đầu tư vào một số lĩnh vực kinh doanh nhạy cảm. Nhiều công ty nước ngoài đã vược qua rào cản này bằng cách lập hai pháp nhân, một pháp nhân có trụ sở ở nước ngoài và một pháp nhân có trụ sở tại nước muốn đầu tư, vì dụ Trung Quốc. Pháp nhân tại Trung Quốc ký hợp đồng với pháp nhân nước ngoài, theo đó pháp nhân nước ngoài có quyền kiểm soát được hoạt động của pháp nhân tại Trung Quốc mà không nắm quyền sở hữu, đổi lại pháp nhân Trung Quốc sẽ được chia lợi nhuận. Cấu trúc này, được gọi là mô hình sở hữu đặc biệt (Variable interest entity – VIE) được dùng từ những năm 1990 cho phép các nhà đầu tư nước ngoài có quyền kiểm soát giới hạn nhưng không phải quyền sở hữu tại những công ty con hoạt động có trụ sở tại Trung Quốc.

Tiến thêm một bước nước, công ty nước ngoài có thể niêm yết trên thị trường chứng khoán ở nước ngoài và nhà đầu tư mua cổ phiếu của công ty nước ngoài được hưởng khoản lợi nhuận từ công ty ở Trung Quốc chuyển sang mà không có cổ phần trực tiếp trong Công ty tại Trung Quốc. Công ty tại Trung Quốc có thể huy động được vốn mà không lo phải san sẻ quyền sở hữu với các nhà đầu tư nước ngoài.

Tại Việt Nam, một số công ty cũng đã và đang ứng dụng mô hình VIE vào các kế hoạch IPO ra quốc tế. Như vậy, VIE với bản chất giống như SPV với hình thức một pháp nhân là một công cụ để những chủ đầu tư đứng sau lưng đạt được các mục đích nhất định.

Mô hình công ty holding- công ty đầu tư

Mô hình công ty holding là mô hình cơ bản của công ty hoạt động đa ngành và những ngành này phải mang tính chất bổ trợ nhau, trong đó, công ty mẹ đóng vai trò là cổ đông lớn tại các công ty con nhưng không trực tiếp điều phối kinh doanh. Trong mô hình công ty holding, công ty mẹ và công ty con là độc lập, minh bạch. Về mặt lý thuyết, nếu công ty mẹ hoặc công ty con gặp khó khăn về tài chính thì công ty còn lại cũng không bị ảnh hưởng.

Ở Việt Nam, có ý kiến cho rằng về mặt pháp lý, dạng công ty holding này rất giống với hình thức công ty đầu tư chứng khoán bởi hình thức đầu tư về mặt vốn. Nhìn chung, công ty holding có rất nhiều ưu điểm như lợi ích về thuế, năng lực nhân sự, cơ hội tiếp cận và kiểm soát vốn sở hữu, quá trình sáp nhập và hợp nhất cũng đơn giản và dễ thực hiện hơn, nhưng nổi bật nhất vẫn là tính tự chủ trong hoạt động và giao dịch kinh doanh của công ty con với công ty mẹ.

Thực tế mô hình công ty holding được cho là khá phù hợp với tình hình kinh tế Việt Nam, nơi phần lớn các công ty có quy mô vừa, nhỏ, siêu nhỏ. Công ty holding được kỳ vọng sẽ kết nối các doanh nghiệp nhỏ lẻ tạo thành các chuỗi doanh nghiệp cung ứng cho nền kinh tế quốc gia.

Kết luận

Như đã nói ở trên, mô hình SPV, VIE hay công ty holding đều là những biến thể công ty được sử dụng phổ biến trên thế giới trong nhiều năm nhưng vẫn còn rất mới mẻ tại Việt Nam. Tuy nhiên điều này không có nghĩa những mô hình này không thể phát triển tại Việt Nam. Lựa chọn một biến thể cho phù hợp với mục đích kinh doanh đầu tư lâu dài trên cơ sở tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam, đòi hỏi nhà quản trị doanh nghiệp cần có cái nhìn am tường đối với đặc trưng của nền kinh tế nói chung, lĩnh vực đầu tư kinh doanh nói riêng và các mô hình công ty.

Xem Chi Tiết