Công Ty Luật Quốc Tế Phước & Cộng Sự

Chọn Ngôn Ngữ:
+84 (28) 3744 9977
Phuoc & Partners Attorneys At Law

Sáng chế do người lao động làm ra: ai sở hữu???

 

Bài viết của Luật sư Nguyễn Hữu Phước và Tiến sĩ Phan Ngọc Tâm được đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn ngày 15/08/2013

***

Giảng viên X của trường đại học K chủ trì một đề tài nghiên cứu khoa học do nhà trường cấp kinh phí để tìm ra một sáng chế mới giúp tiết kiệm tối đa điện năng gia dụng cho các gia đình Việt Nam. Trong quá trình thực hiện công trình nghiên cứu này, ông X cùng các học trò của mình vô tình phát hiện ra một sáng chế khác không nằm trong mục đích nghiên cứu của công trình ban đầu. Ông X đăng ký bảo hộ độc quyền sáng chế nhưng trường K không đồng ý vì cho rằng sáng chế này phải thuộc về nhà trường chứ không phải của bản thân ông X. Với các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, liệu toà án có thể giải quyết thoả đáng vụ việc này không?

Do những đặc thù trong mối quan hệ lao động giữa người lao động (NLĐ) và người sử dụng lao động (NSDLĐ), việc xác minh các sáng chế do NLĐ làm ra có đương nhiên thuộc quyền sở hữu của họ hay không vẫn đang là một vấn đề pháp lý mà các chủ thể liên quan rất quan tâm, không chỉ ở Việt Nam mà cả ở các nước phát triển. Trên thực tế, câu trả lời cho câu hỏi này là khác nhau ở các quốc gia khác nhau.

Kinh nghiệm các nước

Theo pháp luật Vương Quốc Anh, sáng chế sẽ thuộc về NSDLĐ nếu nó được tạo ra bởi NLĐ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thông thường của họ hoặc trong quá trình thực hiện những công việc nằm ngoài phạm vi trách nhiệm nhưng đã được giao cho họ. Tuy nhiên, về phía mình, NLĐ lại có quyền yêu cầu NSDLĐ phải trả một khoản tiền đền bù nhất định nếu (i) NSDLĐ được cho là đã có được “lợi ích đáng kể” (outstanding benefit) từ việc sở hữu sáng chế hoặc bằng độc quyền sáng chế đó; hoặc (ii) khoản tiền mà NLĐ đã nhận từ việc chuyển nhượng hay chuyển giao sáng chế cho NSDLĐ được xem là không thoả đáng.

Điểm quan trọng nhất là NLĐ có nhĩa vụ chứng minh rằng NSDLĐ có được “lợi ích đáng kể” từ việc sở hữu sáng chế hoặc bằng độc quyền sáng chế đã được chuyển giao. Trên thực tế, điều này rất khó, hầu như chưa có NLĐ nào chứng minh được.

Theo pháp luật của Úc, trên nguyên tắc chung, NSDLĐ thường có quyền đối với sáng chế do NLĐ của họ làm ra. Tuy nhiên, dựa trên thực tiễn xét xử của toà án nước này[1], quyền sở hữu của NSDLĐ đối với sáng chế do NLĐ tạo ra không đương nhiên và tự động phát sinh trong mọi trường hợp. Điều quan trọng là, nếu NSDLĐ muốn nắm quyền sở hữu sáng chế do NLĐ tạo ra, NSDLĐ phải đưa vào trong hợp đồng lao động điều khoản ràng buộc rằng mọi sự sáng tạo hay phát triển về sở hữu trí tuệ của NLĐ sẽ thuộc về NSDLĐ. Ngược lại, toà án sẽ tuỳ từng vụ việc cụ thể mà phán xét quyền sở hữu đối với sáng chế đó NLĐ tạo ra sẽ thuộc về ai.

Theo pháp luật Nhật Bản, Đạo luật Sáng chế Nhật Bản trao quyền sở hữu cho NLĐ đối với những sáng chế họ tạo ra trong quá trình lao động. với quy định này, dường như mọi thoả thuận trước đó giữa NSDLĐ và NLĐ là không có giá trị, đặc biệt là những thoả thuận mà ở đó NLĐ có thể chịu thiệt thòi hơn so với NSDLĐ. Tuy nhiên, NSDLĐ cũng sẽ được quyền sử dụng sáng chế dưới dạng không độc quyền nhưng có thể chuyển giao, sau khi đã thanh toán tiền thu lao hợp lý cho NLĐ đã chuyển giao quyền sử dụng này.

Theo pháp luật Hoa Kỳ, hầu hết các doanh nghiệp đều có nững quy định liên quan đến việc trả một khoản tiền đền bù cho các sáng chế do NLĐ tạo ra. Tuy nhiên, các doanh nghiệp không có nghĩa vụ pháp lý bắt buộc phải làm như vậy. Nhìn chung, quyền sở hữu đối với sáng chế được cho là thuộc về NSDLĐ thông qua những thoả thuận ngầm định với NLĐ – hoặc cho rằng bất kỳ điều khoản nào về việc bồi thường cho sáng chế do NLĐ ạo ra đã được thoả thuận trước đó với NLĐ trong hợp đồng lao động ban đầu.

Mặc dù luật sáng chế Hoa Kỳ trao cho NSDLĐ một vị thế thuận lợi hơn so với luật pháp ở châu Âu, bản thân những NLĐ vẫn có thể dựa vào giới hạn quyền tự do sử dụng sáng chế của NSDLĐ nếu họ không được thuê hoặc được nhận làm việc một cách rõ ràng là để tạo ra sáng chế. Quyền tự do sử dụng sáng chế của NSDLĐ là quyền miễn trả tiền bản quyền và không độc quyền sử dụng những sáng chế được phát triển hay tạo ra bởi NLĐ do sử dụng thời gian làm việc hoặc ngân sách của NSDLĐ trong quá trình làm việc.

Theo pháp luật Việt Nam

Pháp luật lao động hiện hành, cụ thể là Bộ luật lao động năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành, chưa quy định rõ việc điều chỉnh về vấn đề này. Điều 23.2 của của Bộ luật lao động 2012 chỉ quy định trường hợp NLĐ làm việc có liên quan trực tiếp đến bí mật công nghệ theo quy định của pháp luật thì NSDLĐ có quyền thỏa thuận bằng văn bản với NLĐ về nội dung, thời hạn bảo vệ bí mật công nghệ. Điều 126.1 cũng chỉ quy định thêm về trường hợp NSDLĐ được quyền sa thải NLĐ nếu NLĐ vi phạm quyền sở hữu trí tuệ của NSDLĐ. Vì vậy các quy định tương ứng của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam cần được tham chiếu trường hợp này.

Theo Điều 86 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền đăng ký sáng chế liên quan đến sáng chế của NLĐ thuộc về các pháp nhân hoặc cá nhân đã cung cấp tài chính và cơ sở vật chất cho nhà sáng chế qua hình thức giao việc hoặc thuê việc, trừ phi các bên có liên quan có thỏa thuận khác. Như vậy, trong trường hợp NLĐ được thuê hoặc giao nhiệm vụ nghiên cứu để có thể tạo ra một sáng chế nào đó thì NSDLĐ sẽ có quyền nộp đơn xin cấp bằng sáng chế, và một khi đã được cấp văn bằng bảo hộ, NSDLĐ sẽ là chủ sở hữu sáng chế đó.

Còn NLĐ sẽ được hưởng một số quyền nhân thân đối với công nghệ sáng chế ra, được ghi tên là tác giả sáng chế trong các giấy tờ liên quan đến bằng sáng chế cũng như trong bất kỳ tài liệu nào mà công nghệ này được công bố hoặc giới thiệu (Điều 122 Luật Sở hữu trí tuệ ). NLĐ cũng nhận được một khoản thù lao theo quy định của pháp luật (Điều 135 Luật  Sở hữu trí tuệ). Như vậy, trong trường hợp này, pháp luật Việt Nam có hướng tiếp cận tương tự với pháp luật các quốc gia khác như trình bày ở trên.

Tuy nhiên, đối với trường hợp NLĐ không được NSDLĐ thuê hoặc giao nhiệm vụ nghiên cứu sáng chế, hoặc sáng chế được thực hiện ngoài phạm vi công việc được giao theo hợp đồng lao động đã ký hay được NLĐ sáng tạo trong thời gian hợp đồng lao động còn hiệu lực nhưng lại ngoài thời gian làm việc theo nội quy lao động của doanh nghiệp và hợp đồng lao động thì pháp luật Việt Nam không có quy định rõ ràng.

Điều này trên thực tế đã tạo ra nhiều hệ lụy không mong muốn cũng như những tranh cãi về mặt pháp lý không đáng có. Do vậy, chúng ta cần phân biệt hai trường hợp. Trường hợp thứ nhất, nếu sáng chế được NLĐ tạo ra ngoài quá trình lao động, quan hệ lao động và thời gian lao động, và NLĐ cũng không sử dụng bất kỳ công cụ, phương tiện hay tiện ích nào của NSDLĐ, thì sáng chế đó phải được xem là tài sản trí tuệ thuộc sở hữu riêng của NLĐ.

Trường hợp thứ hai, tương tự như trường hợp trước nhưng NLĐ có sử dụng công cụ, phương tiện và tiện ích của NSDLĐ, thì tùy thuộc vào nội quy lao động và quy chế quản lý tài sản trí tuệ của NSDLĐ, hai bên có thể thỏa thuận để xác định quyền sở hữu đối với sáng chế cũng như ấn định mức tiền đền bù tương ứng cho chủ thể phía bên kia.

Tuy nhiên, điều mà các thẩm phán của các tòa án cần để đưa ra phán quyết cuối cùng là quy định của pháp luật phải rõ ràng và cụ thể. Do vậy, trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay, cần nghiên cứu và nhanh chóng bổ sung các quy định pháp luật cụ thể  về vấn đề tài sản trí tuệ được tao ra trong quá trình thực hiện các hợp đồng lao động giữa NLĐ và NSDLĐ, nhưng cũng không làm nhụt chí sáng tạo của NLĐ, tránh các tranh chấp lao động phát sinh.

[1] Vụ kiện giữa Spencer Industries v. Anthony Collins (2002) và vụ kiện giữa Victoria University of Technology v. Wilson & Ors (2004).

Xem Chi Tiết