Công Ty Luật Quốc Tế Phước & Cộng Sự

Chọn Ngôn Ngữ:
+84 (28) 3744 9977
Phuoc & Partners Attorneys At Law

Thành lập công đoàn cơ sở có cần không?

Một bài viết của Luật sư Nguyễn Hữu Phước & Luật sư Lạc Thị Tú Duy có tiêu đề: “Thành lập công đoàn cơ sở có cần không?, được đăng trên Nhịp Cầu Đầu Tư, thứ Hai, ngày 08/02/2010.

***

Một công đoàn cơ sở có hiệu quả có thể giúp cân đối lợi ích của người sử dụng lao động và người lao động, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Lâu nay, tâm lý chung của chủ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp dân doanh là ngán ngại việc thành lập công đoàn cơ sở. Theo họ, hoạt động công đoàn cơ sở vừa tốn kém thời gian, nhân lực, vừa rắc rối, lại còn phải đóng đoàn phí bằng 1% tổng quỹ tiền lương, tiền công của doanh nghiệp. Trong khi đó, người lao động cũng không mặn mà với việc tham gia công đoàn cơ sở. Họ cho rằng, điều này chỉ tốn thời gian, phải đóng đoàn phí, trong khi quyền lợi thì hầu như không có.

Theo thống kê gần đây của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam thì đến tháng 08.2009, có 60% doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và 80% doanh nghiệp dân doanh chưa có tổ chức công đoàn cơ sở. Trong khi đó, công đoàn cơ sở đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo mối quan hệ hài hòa giữa người lao động và người sử dụng lao động. Thực tế cho thấy, vì không có công đoàn cơ sở hoặc có nhưng không phát huy được vai trò, nhiều doanh nghiệp phải đối với mặt những rắc rối pháp lý không đáng có và thiệt hại cũng không nhỏ.

NHỮNG TRANH CHẤP

Những tranh chấp giữa người lao động và chủ doanh nghiệp có thể thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau:

Tranh chấp tập thể: Tính từ năm 1995 tới nay, có gần 3.000 cuộc đình công, lãn công xảy ra, nhưng hầu hết đều trái luật. Nguyên nhân chính là doanh nghiệp không có công đoàn cơ sở hoặc ban chấp hành công đoàn cơ sở không tham gia điều tiết để tổ chức đình công đúng luật (một cuộc đình công được xem là hợp pháp khi diễn ra đúng các trình tự do công đoàn tổ chức).

Rõ ràng, hậu quả của những cuộc đình công quy mô lớn và kéo dài là khá lớn và người gánh chịu thiệt hại đầu tiên và nặng nề nhất không ai khác là chủ doanh nghiệp. Họ vẫn phải trả lương cho những người lao động không đình công (nhân viên phải tạm nghỉ việc do đình công) trong khi các chi phí cố định vẫn phát sinh. Nghiêm trọng hơn là việc sản xuất kinh doanh bị đình trệ, mất uy tín với khách hàng và bỏ lỡ cơ hội kinh doanh do phải tập trung giải quyết tranh chấp.

Một số vấn đề khác cũng nảy sinh. Chẳng hạn, doanh nghiệp sẽ bị các cơ quan chức năng “soi” kỹ các hoạt động của doanh nghiệp; mối quan hệ giữa người sử dung lao động và người lao động sau đình công trở nên căng thẳng, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Tranh chấp cá nhân: Gần đây, những tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động (sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động) gia tăng, một phần do tình hình kinh tế khó khăn, phần khác do người lao động đã ý thức hơn về quyền lợi của họ.

Một nguyên nhân cũng quan trọng không kém là một phần các vụ tranh chấp lao động thường xuất phát từ việc hiểu biết pháp luật lao động của người sử dụng lao động còn hạn chế, đặc biệt là nhận thức về vai trò của công đoàn cơ sở trong việc tham gia giải quyết tranh chấp. Hậu quả là doanh nghiệp vấp phải sự phản ứng gay gắt từ phía người lao động. Để bảo vệ quyền lợi của mình, người lao động nhờ đến luật sư và gửi đơn khiếu nại đến cơ quan quản lý lao động địa phương, thậm chí cả cơ quan công an.

Một điểm chung giữa các doanh nghiệp vướng vào những rắc rối trên là công đoàn cơ sở không được thành lập hoặc vai trò của tổ chức này bị hạn chế. Nếu tham khảo ý kiển của công đoàn, người sử dụng lao động sẽ được cung cấp những nội dung cơ bản liên quan tới thủ tục để có thể cho thôi việc người lao động một cách hợp pháp.

Do thiếu tổ chức công đoàn cơ sở, hoặc có nhưng bị xem nhẹ, nhiều doanh nghiệp đã miễn cưỡng giải quyết tranh chấp như phải nhận người lao động trở lại làm việc (trong trường hợp bị thua kiện). Nghiêm trọng hơn là những vụ đình công lôi kéo thêm nhiều người khác tham gia.

THAY ĐỔI NHẬN THỨC VỀ CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ

Bộ luật Lao động hiện hành quy định việc thành lập công đoàn cơ sở tại các doanh nghiệp là bắt buộc, chậm nhất là sau 6 tháng kể từ ngày doanh nghiệp đi vào hoạt động. Đồng thời, chủ doanh nghiệp phải có trách nhiệm phối hợp cũng như tạo điều kiện tốt nhất cho tổ chức này hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ của mình.

Như vậy, cơ sở pháp lý đã có. Điều quan trọng là làm sao thay đổi nhận thức của người sử dụng lao động và người lao động về vai trò của công đoàn trong các mối quan hệ lao động. Suy cho cùng, việc thành lập công đoàn cơ sở, với nhiệm vụ chính là chăm lo đời sống, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động trong doanh nghiệp,là để giúp doanh nghiệp thực thi một cách đúng đắn luật lao động. Qua đó, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa người sử dụng lao động và người lao động.

Một công đoàn cơ sở hoạt động hiệu quả mang lại lợi ích rất lớn cho cả doanh nghiệp lẫn người lao động. Thứ nhất, công đoàn cơ sở tham gia hỗ trợ người sử dụng lao động xây dựng nội quy lao động, bảng lương, thỏa ước lao động tập thể. Doanh nghiệp cũng cần phối hợp chặt chẽ với người lao động để công đoàn thực sự là cầu nối truyền đạt nguyện vọng của người lao động đến chủ doanh nghiệp.

Thứ hai, khi doanh nghiệp phải thay đổi cơ cấu hoặc cải tiến công nghệ, công đoàn có thể giúp chủ doanh nghiệp sắp xếp lao động, cũng như chấm dứt hợp đồng lao động.

Thứ ba, khi có tranh chấp xảy ra như đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, kỷ luật lao động, đình công, công đoàn cơ sở sẽ tổ chức đối thoại nhằm dung hòa lợi ích của người lao động với người sử dụng lao động trên tư cách là một chủ thể độc lập, trung gian giải quyết tranh chấp lao động.

Mặt khác, một trong những nhiệm vụ của công đoàn cơ sở là chăm lo thiết thực cho đời sống vất chất, tinh thần của người lao động. Điều này đồng nghĩa công đoàn cơ sở làm thay hay hỗ trợ chủ doanh nghiệp trong việc thực hiện các chế độ, chính sách dành cho người lao động.

Một khi đời sống người lao động được chăm lo đúng mực, quyền và lợi ích chính đáng được bảo đảm, họ sẽ gắn bó lâu dài với doanh nghiệp, năng suất, hiệu quả lao động qua đó được nâng cao. Và người hưởng lợi nhiều nhất không ai khác ngoài doanh nghiệp.

Xem Chi Tiết